Việt Nam từ năm 1946 đến 1955

Mục lục

Việt Nam từ năm 1946 đến 1949

Pháp tái chiếm Đông Dương

Pháp đã theo chân người Anh, dưới sự chỉ huy của tướng Douglas Gracey, vào Sài Gòn từ tháng 9 năm 1945. Nền độc lập non trẻ của người dân Nam Kỳ chỉ vỏn vẹn 20 ngày cho đến khi bùng nổ sự kiện Nam Bộ kháng chiến ngày 23/9/1945. Quân đội Anh hỗ trợ tích cực cho người Pháp đồng thời gây hỗn loạn an ninh, chính trị và đàn áp các phong trào kháng chiến của nhân dân, nhất là ủng hộ các hoạt động chống lại Việt Minh trong miền Nam. Đến tháng 10 năm 1945, người Pháp mới thực sự trở lại nắm quyền trọng yếu dưới sự hỗ trợ của Quân đội Anh.

Trong khi đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau ngày Độc lập ra sức đấu tranh, bảo vệ độc lập và tự chủ của nhà nước non trẻ, tổ chức thành công bầu cử Quốc hội ngày 06/1/1946 và vẫn đang ôn hòa, đàm phán để Pháp cũng như các nước khác công nhận độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, tức bao gồm cả 3 miền Bắc – Trung – Nam. Vì thế, chính phủ của Hồ Chí Minh vừa nhân nhượng vừa khéo léo từ chối những yêu cầu quá đáng, khiêu khích của các thế lực khác nhằm phá tan nền độc lập vừa giành được. Từ Hiệp định sơ bộ 06/3/1946 đến Hội nghị Fontainebleau diễn ra từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1946.

Về phía Pháp, ngày 24/3/1945, Charles De Gaulle vẫn bày tỏ ý định: “duy trì năm quốc gia tạo nên Liên Bang Đông Dương”. Năm quốc gia đó là: Tonkin (miền Bắc – đất nhượng địa); An Nam (miền Trung – đất bảo hộ); Cochinchina (Nam Kỳ – đất thuộc địa); Cao Miên và Ai Lao. Thực hiện mưu đồ tái chiếm Đông Dương, trước cao trào độc lập và thống nhất của người Việt trên cả ba miền, người Pháp đã đặt ra vị trí Cao ủy Đông Dương (tuong đương với Toàn quyền Đông Dương trước đó) để cai trị và quyết định mọi vấn đề ở Đông Dương. Đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu làm Cao Ủy Đông Dương từ 31/10/1945 đến 01/4/1947. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có 2 cuộc gặp lịch sử với Cao ủy Đông Dương: một là, sau khi ký Hiệp định sơ bộ 06/3/1946, trên Vịnh Hạ Long vào ngày 24/3/1946; hai là, sau khi trở về từ Hội nghị Fontainebleau, ngày 18/10/1946 trên Vịnh Cam Ranh. Song song với đó, ngưới Pháp mon men thay thế quân Tưởng ở miền Bắc để hòng chiếm trọn quyền kiểm soát và cai trị toàn cõi Việt Nam. Hiệp ước Hoa – Pháp ký kết ngày 28/2/1946, Pháp trao lại các khu tô giới ở Thượng Hải, Thiên Tân, Hán Khẩu, Quảng Đông để thay quân đội Tưởng ở miền Bắc Việt Nam. Thế nhưng, đến ngày 05/3/1946, Pháp đưa tàu chiến vào Hải Phòng khiến cho quân đội Tưởng cảnh báo nổ súng nếu như không có Hiệp định giữa Việt – Pháp. Thế là, Hiệp định sơ bộ được ký kết với Pháp với nhiều đại diện các bên như: đại diện Quốc Dân Đảng, sự chứng kiến của Bộ Tư lệnh quân Tưởng, phái bộ Mỹ và lãnh sự Anh. Theo đó, Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do đổi lại 15.000 quân Pháp đóng trong 5 năm thay cho 20 vạn quân Tưởng và tay sai. Một tuần sau, quân Tưởng bắt đầu rút lui 15/3 – 31/3/1946 (thực tế đến 18/9/1946 mới hết).

Trong khi đó, tại miền Nam và miền Trung, Tây Nguyên, ngoài mặt Pháp ký kết với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thực tế, Pháp lại ủng hộ thành lập các chính thể tại miền Nam, miền Trung và Tây Nguyên và cuối cùng là cho ra đời Quốc Gia Việt Nam vào năm 1949. Đó là:

1. Cộng hòa tự trị Nam Kỳ

Ngày 01/6/1946, Hội nghị Fontainebleau sắp diễn ra, Cao Ủy Đông Dương đơn phương tán thành thành lập Cộng hòa tự trị Nam Kỳ do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng, sau đó là Lê Văn Hoạch (1946 – 1947) và cuối cùng là Nguyễn Văn Xuân (1947 – 1948). Về pháp lý, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ là toàn bộ vùng Nam Bộ (Cochinchina) của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng người Pháp không chấp nhận độc lập và thống nhất nên tùy nghi thiết lập hệ thống chính trị trên mọi địa phận của Việt Nam. Theo đó, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ là một chính phủ thuộc Liên hiệp Pháp (không phải là một vùng hay một nước tự do trong Liên hiệp Pháp) còn bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì xem đây là chính phủ bù nhìn do người Pháp lập nên. Thủ đô là Sài Gòn, quốc kỳ màu vàng, 3 sọc xanh và 2 sọc trắng ở giữa. Ba sọc màu xanh tượng trưng cho 3 con sông: Đồng Nai, Tiền Giang, Hậu Giang. Quốc ca là 8 câu đầu trong bài Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn (sáng tác 1741) do Võ Văn Lúa sáng tác. Nguyên thủ quốc gia là đại diện Phủ Cao ủy do chính phủ Pháp đề cử; dưới chức đại điện Phủ Cao ủy là Thủ tướng (hay Nội các Tổng trưởng). Thực tế, trong 3 năm 1946 – 1948, chức vụ này liên tục biến động nên chủ yếu là chỉ định chứ không thông qua tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu. Chẳng những thế, Chính phủ Nam Kỳ cũng thay đổi tên gọi nhiều lần:

  • Trung ương lâm thời chánh phủ Nam Kỳ quốc (từ 26/3 – 31/5/1946).
  • Trung ương chánh phủ Cộng hòa Nam Kỳ tự trị (từ 01/6/1946 – 07/10/1947).
  • Lâm thời chánh phủ Nam Phần Việt Nam (từ 08/10/1947 – 27/5/1948).

Trong khi đó, tại Nam Bộ, sau ngày 25/8/1945, Việt Minh đã thành lập Ủy ban Hành chánh Lâm thời Nam Bộ do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch và căn cứ vào Hiệp định Sơ bộ 06/3 và Tạm ước 14/9 thì Ủy ban này được công nhận. Như chúng ta đã biết, ngày 19/12/1946, Bác Hồ ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, đưa toàn bộ Chính phủ vào Việt Bắc, tiến hành chiến tranh kháng chiến chống Pháp. Vậy là toàn bộ Việt Nam chỉ còn là những thực thể được người Pháp dựng lên.

2. Xứ Thượng Nam Đông Dương

Một đơn vị hành chính tự trị thuộc Liên bang Đông Dương cũng do Cao Ủy Đông Dương D’Argenlieu  thông qua thành lập. Giống như Cộng hòa tự trị Nam Kỳ, một khu tự trị bao gồm cả cao nguyên Trung phần, tức Tây Nguyên, được thành lập ngày 27/5/1946 và kết thúc vào năm 1950 khi sát nhập vào Hoàng triều cương thổ. Thủ đô là Đà Lạt (1946 – 1948) và Ban Mê Thuột (1948 – 1950).

3. Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam

Ngày 27/5/1948, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân của Cộng hòa tự trị Nam Kỳ từ chức và lập ra Chính phủ trung ương lâm thời Việt Nam bao gồm 2 xứ bảo hộ trước đây là Bắc Kỳ và Trung Kỳ (không bao gồm Tây Nguyên). Có thể hình dung nước Việt Nam giai đoạn 1948 này bị chia cắt như sau: miền Bắc và miền Trung thuộc Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam; miền Nam là Cộng hòa tự trị Nam Kỳ và Tây Nguyên là Xứ Thượng Nam Đông Dương. Thủ đô vẫn là Sài Gòn; quốc ca là Thanh niên hành khúc (sáng tác của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước vào năm 1939). Quốc kỳ là màu vàng và 3 sọc đỏ chính giữa. Đến tháng 5/1949, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ sát nhập vào Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam tạo thành chính thể mang tên Quốc gia Việt Nam vào tháng 7/1949 do người Pháp dựng lên, cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng.

Sau chiến tranh thế giới thứ 2 năm 1945, kế hoạch hỗ trợ và tái thiết (Marshall) được các nước phương Tây ráo riết thực hiện nhưng cũng bao gồm “ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản” (thuyết Domino). Bức tranh thế giới cực kỳ phức tạp. Các quốc gia thực dân trước đây lần lượt trao trả độc lập cho các dân tộc thuộc địa nhưng nếu quốc gia đó theo chủ nghĩa cộng sản hoặc phe cộng sản nắm quyền thì quá trình diễn ra khác thường, thậm chí “đẫm máu”. Mỹ trao trả độc lập cho Phillipines năm 1946; Anh trao trả độc lập cho Ấn Độ năm 1947 và Myanmar năm 1948; thời kỳ khẩn cấp của Malaysia kéo dài 12 năm từ 1948 – 1960; Hà Lan trao trả Indonesia năm 1949. Trong khi đó, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên thành lập năm 1948; Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1949. Chiến tranh Triều Tiên diễn ra trong năm 1950 như một tất yếu của 2 phe hình thành trên cùng 1 khu vực. Việt Nam không nằm ngoài vòng xoáy đó. Người Pháp đứng giữa áp lực của các nước phương Tây về việc “trao trả độc lập” và “ngăn chặn cộng sản” cho nên trao trả cho ai, độc lập, tự chủ đến mức nào được suy xét cẩn thận, trong số đó nổi lên vai trò của cựu hoàng Bảo Đại. Người Pháp chấp nhận một lộ trình trao quyền tự quyết cho chính phủ bản xứ với điều kiện người lãnh đạo mà Pháp đồng ý thỏa hiệp “không phải là cộng sản” (hay nói cách khác, chính phủ này đảm bảo duy trì các lợi ích của Pháp tại Đông Dương).

Bảo Đại thoái vị bằng nghi lễ chính thức ngày 30/8/1945, sau đó, được mời ra Hà Nội vào tháng 9, tham gia Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tổng tuyển cử bầu Quốc hội 06/1/1946, ông trúng cử Đại biểu chính thức Khóa 1. Ngày 16/3/1946, sau kết quả Hiệp định Sơ bộ, Chính phủ cử đoàn đại biểu sang thăm Trung Hoa (lúc này vẫn là chính quyền Tưởng Giới Thạch). Bảo Đại đã từ Trùng Khánh sang Hồng Kông và ở lại đó mà không về nước. Với vai trò và tiếng tăm của mình, các bên liên quan đều tranh thủ uy tín, vị thế của ông để mưu cầu những lợi ích riêng, dĩ nhiên có người Pháp. Pháp đã đem miếng mồi “độc lập” để thuyết phục Bảo Đại về nước và thành lập chính phủ. Tháng 12/1947, Hiệp ước sơ bộ Vịnh Hạ Long giữa Pháp và Bảo Đại đã hình thành nhưng một tổ chức ủng hộ Bảo Đại là Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên Hiệp đã chỉ trích và phản đối. Tổ chức này là nhóm dân tộc chủ nghĩa đối lập với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều này có nghĩa giải pháp Bảo Đại trở thành duy nhất phù hợp với Pháp và các nước phương Tây trong tình hình này.

Trong năm 1948, Cao ủy Pháp tiếp cận nhiều lần nhưng vấn đề chính là bổ sung vào Hiệp ước Vịnh Hạ Long vẫn chưa được đáp ứng. Tháng 4/1948, Nguyễn Văn Xuân và Trần Văn Hữu sang Hồng Kông để xin thành lập Chính phủ lâm thời cho Việt Nam. Cuối cùng tháng 6/1948, Thông cáo chung Vịnh Hạ Long được ký kết, theo đó: Pháp công nhận Quốc gia Việt Nam và Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Pháp. Tuy nhiên, một lần nữa, vấn đề Cộng hòa tự trị Nam Kỳ, người Pháp muốn tách ra khỏi Chính phủ Quốc gia Việt Nam. Cuối cùng, người Pháp nhượng bộ. Ngày 08/3/1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol đã ký với Bảo Đại Hiệp định Elyses thành lập Quốc gia Việt Nam trong khối Liên Hiệp Pháp, bao gồm cả Nam Kỳ. Đây chính là lý do vì sao Cộng hòa tự trị Nam Kỳ sát nhập vào Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam và sau đó trở thành Quốc Gia Việt Nam vào năm 1949.

Việc 1 ông hoàng đã thoái vị trở thành công dân Vĩnh Thụy và một đại biểu Quốc hội được bầu lại bỏ trốn khỏi nước mình nay nhờ thế lực nước ngoài, quay lại lập chính phủ không bầu cử quốc hội, không hiến pháp và không tổng tuyển cử đã trở thành một chính thể tay sai, bù nhìn hoặc không chính thống. Theo quan diểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông chỉ còn là một công dân bình thường nên ông ta không có tư cách pháp lý để thay mặt đất nước ký thỏa thuận với Pháp, trong khi chính phủ của Hồ Chí Minh hợp pháp, hợp hiến lại đang tiến hành kháng chiến chống Pháp. Năm 1948, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã kết án tội phản quốc đối với Bảo Đại vì đã hợp tác với Liên hiệp Pháp, chống lại phong trào kháng chiến của dân tộc Việt Nam.

4. Quốc gia Việt Nam

Quốc gia này là nước quân chủ chuyên chế, do chưa có Quốc hội và Hiến pháp với Quốc trưởng là Bảo Đại và quyền cai trị vẫn thuộc về Pháp, với Cao ủy Pháp kiểm soát tài chính, thương mại, quân sự và chính sách đối ngoại của Quốc gia Việt Nam. Với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đây là chính phủ bù nhìn để hợp thức hóa việc xâm lược Việt Nam. Thủ đô vẫn là Sài Gòn, quốc kỳ như cũ, quốc ca có thay đổi lời và tên gọi mới là công dân hành khúc. Từ năm 1954, theo thỏa thuận của Hiệp định Geneve, chính quyền và các lực lượng quân sự của Liên Hiệp Pháp (bao gồm Quốc gia Việt Nam) theo quân đội Pháp tập kết vào miền Nam. Đây chính là bên tham gia và ký kết Hiệp định. Sau một cuộc trưng cầu dân ý gây tranh cãi vào năm 1955 để phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, Thủ tướng Ngô Đình Diệm trở thành Quốc trưởng. Sau đó Quốc trưởng Ngô Đình Diệm tổ chức bầu quốc hội cho Quốc gia Việt Nam. Quốc hội này đã ban hành Hiến pháp, đổi tên Quốc gia Việt Nam thành Việt Nam Cộng Hòa.

5. Hoàng triều cương thổ

Cùng với việc thành lập Quốc gia Việt Nam, người Pháp cũng trao Xứ thượng Nam Đông Dương (cao nguyên Trung phần hay Tây Nguyên ngày nay) cho Bảo Đại tháng 5/1949. Ngày 15/4/1950, Bảo Đại ký dụ số 6 tách Cao nguyên Trung phần và 11 tỉnh phía Bắc, bao gồm: Khu tự trị Mường (Hòa Bình), Khu tự trị Thái (Phong Thổ), khu tự trị Thái (Lai Châu), khu tự trị Thái (Sơn La), khu tự trị H’Mông (Lào Cai), khu tự trị H’Mông (Hà Giang), khu tự trị Thổ (Bắc Kạn), khu tự trị Thổ (Cao Bằng), khu tự trị Thổ (Lạng Sơn), khu tự trị Nùng (Hải Ninh – một phần Quảng Ninh ngày nay) và khu tự trị Nùng (Móng Cái) thành lập ra Hoàng triều cương thổ. Bảo Đại vẫn giữ vai trò là Hoàng đế tại vùng này, ngoài danh nghĩa Quốc trưởng. Sau Hiệp định Geneve, thông qua Dụ số 21 ngày 11/3/1955 và Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận, chính thức sáp nhập Hoàng triều Cương thổ lại vào Trung phần và trở về với tên gọi Cao nguyên Trung phần.

Như vậy, sau năm 1949, Việt Nam có chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang kháng chiến chống Pháp và Quốc gia Việt Nam song song với Hoàng Triều cương thổ mà chỉ có một người vừa là Quốc trưởng, vừa là Hoàng đế.