Từ khi Thế chiến thứ 2 bắt đầu năm 1939, Việt Nam chúng ta đã trải qua những sự kiện chính yếu nào? Những Hội nghị, Tuyên bố đã ảnh hưởng đến thế giới và Việt Nam như thế nào?
Bài viết chủ yếu điểm qua những sự kiện chính yếu, liên quan đến Việt Nam từ năm 1940, khi Nhật vào Đông Dương, khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ, Nhật đảo chính Pháp, lập chính phủ Trần Trọng Kim và những chuyển biến quan trọng, mau lẹ trong năm 1945 dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nhật vào Đông Dương

Tại Việt Nam, từ những năm 1940, nhằm cắt đứt viện trợ của của Đồng Minh cho Trung Hoa qua con đường sắt Hải Phòng – Vân Nam và cảng Hải Phòng. Do bị bao vây trên lãnh thổ Trung Hoa, tuyến đường sắt từ Hải Phòng này trở thành con đường duy nhất, sống còn để viện trợ cho Trung Hoa. Cần nói rõ thêm, lúc này, Việt Nam vẫn là thuộc địa của Pháp nhưng nước Pháp từ tháng 7 năm 1940 đã trở thành 2 lãnh thổ riêng biệt sau thất bại trước quân Đức. Chính phủ Quốc gia Pháp do Thống chế Philippe Pétain (1856 – 1951) thành lập và hợp tác với phe Trục. Chính phủ này lấy Vichy (không phải Paris) làm thủ đô hành chính. Trong khi đó, tướng Charles De Galle lập ra nước Pháp Tự do, tham gia phe Đồng Minh chống lại Đức. Kể từ tháng 9 năm 1944, ông trở thành Tổng thống của Chính phủ Lâm thời của nước Cộng hòa Pháp. Cho nên, Đông Dương lúc này dưới quyền cai trị của Chính phủ Pháp Vichy, Toàn quyền Jean Decoux (1940 – 1945) phải cho quân Nhật xây dựng các căn cứ quân sự nhằm chặn đứng các tuyến đường tiếp viện của quân đội Đồng Minh (nhất là Hoa Kỳ) cho Trung Hoa.
Tháng 9 năm 1940, Nhật tiến vào Đông Dương qua ngã Đồng Đăng, Lạng Sơn. Thậm chí, quận Nhật chiếm sân bay Gia Lâm, làm chủ tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn và chiếm cả cảng Hải Phòng Quân Pháp phần thì đầu hàng, phần thì tháo chạy khỏi các căn cứ. Nhân cơ hội quân Pháp rút chạy về Thái Nguyên qua ngã Bắc Sơn, Đảng bộ huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn) cũng như các dân tộc Tày Nùng Dao quyết định nổi dậy, chặn đánh quân Pháp và đánh chiếm đồn Mỏ Nhài ngày 27/9/1940. Đến tháng 10 năm 1940, dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Bắc kỳ (đồng chí Trần Đăng Ninh) đã lập ra các đội du kích Bắc Sơn. Ngày 28/10/1940, khi cuộc mít-tinh chuẩn bị khởi nghĩa, tấn công đồng Mỏ Nhài thì bị lộ và quân Pháp đã tiến hành đàn áp. Quân Nhật không can thiệp để quân Pháp lùng quét nghĩa quân, du kích. Đến cuối năm 1940, khởi nghĩa Bắc Sơn hoàn toàn tan rã.
Ở Nam Kỳ, từ tháng 3 năm 1940, Xứ ủy Nam Kỳ đã chỉ đạo, thành lập các đội du kích từ các xí nghiệp như Ba Son, nhà đèn Chợ Quán, trường Bách Nghệ đến các xã cũng có trung đội du kích. Mọi việc chuẩn bị cho khởi nghĩa đã gần như sẵn sàng thì từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1940, lần lượt các lãnh đạo đều bị bắt như Bí thư Xứ ủy Võ Văn Tần; Nguyễn Thị Minh Khai, v.v… nên kế hoạch khởi nghĩa đã bị lộ. Bản thân đồng chí Phan Đăng Lưu khi ra Bắc để báo cáo và xin chỉ thị Trung ương thì Trung ương cũng nhận định điều kiện khởi nghĩa chưa chín muồi. Nhưng khi Phan Đăng Lưu quay trở lại Sài Gòn ngày 22/11/1940 thì lệnh khởi nghĩa đã được ban ra ngày 20/11/1940. Ngay trước ngày khởi nghĩa, Tạ Uyên – Bí thư Xứ ủy thay Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu cũng bị bắt. Và đúng như tính toán, toàn miền Nam đã nhất tề nổi dậy ngày 23/11/1940 từ Biên Hòa đến Cà Mau, 18 tỉnh, cờ đỏ sao vàng xuất hiện, nhiều nơi chiếm được chính quyền. Tuy nhiên, thời điểm chưa chính muồi và kế hoạch đã lộ nên thực dân Pháp đàn áp khắp nơi. Chính quyền cách mạng không giữ được lâu. Lâu nhất là Mỹ Tho được 49 ngày. Cuộc khởi nghĩa hoàn toàn bị dập tắt.
Như vậy, ngay từ những ngày đầu, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhân dân đã chuẩn bị chuyển từ hình thức đấu tranh chính trị sang đấu tranh vũ trang và kết hợp cả hai hình thức này. Các đội du kích vũ trang được thành lập khắp nơi và sẵn sàng khởi nghĩa. Đang khi đó, Nhật đến Đông Dương, Việt Nam đối đầu với 2 thế lực Nhật – Pháp. Có thể nói, nhân dân Việt Nam đã phản ứng, chiến đấu chống phát xít Nhật và chính quyền Pháp Vichy ngay từ khi chúng đặt chân đến Việt Nam. Với khí thế cách mạng, nhân dân đã nhất tề đứng lên, nổi dậy, làm khởi nghĩa vũ trang, đánh đồn, xóa bỏ chính quyền thực dân, lập chính quyền cách mạng. Tuy 2 cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ bị đàn áp và tan rã sau đó nhưng bài học, kinh nghiệm và tinh thần cách mạng của toàn Đảng, toàn dân lên cao, góp phần cho thành công cho những cuộc đấu tranh vũ trang, nổi dậy giành chính quyền về tay nhân dân mà nhất là cuộc Cách mạng Tháng 8 năm 1945.
Nhật đảo chính Pháp – chính phủ Trần Trọng Kim
Đến ngày 09/3/1945, đại diện quân đội Nhật là đại sứ Matsumoto Shunichi đưa tối hậu thư cho Jean Decoux đòi chính quyền Pháp chấp nhận vô điều kiện sự chỉ huy của quân đội Nhật trên toàn cõi Đông Dương (đây là sự kiện mà chúng ta hay gọi là Nhật đảo chính Pháp). Sau đó, tương tự như Đại Mãn Châu quốc của Phổ Nghi, Nhật Bản chọn giải pháp Bảo Đại – Trần Trọng Kim (không chọn Kỳ ngoại hầu Cường Để – Ngô Đình Diệm) để dựng nên Đế quốc Việt Nam do Bảo Đại làm hoàng đế. Đế quốc Việt Nam tuyên bố độc lập ngày 11/3/1945 nhưng là một thực thể không khác gì so với thời Pháp đô hộ – không tự chủ về ngoại giao, không có quân đội, không độc lập về tài chính. Nhật Bản yêu cầu Bảo Đại ký Bản tuyên bố hủy bỏ các Hiệp ước với Pháp (nhất là Hòa ước Patenôtre 1884). Nguyên văn được đăng trên Nhật báo Sài Gòn như sau: “Chính phủ Việt Nam nay thủ tiêu điều ước bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam và Đế quốc Việt Nam tuyên bố đã phục hồi sự độc lập”. Ngày 17/4/1945, Nội các Trần Trọng Kim cùng 11 Bộ trưởng được công bố.
Trong vòng 4 tháng từ khi thành lập, những thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng hay còn gọi là khu nhượng địa dưới thời Pháp được bàn giao lại cho chính phủ Trần Trọng Kim, bổ nhiệm 3 vị Đốc lý người Việt thay thế từ 20/7/1945. Đến khi phát xít Nhật đầu hàng khoảng giữa tháng 8 – 1945, đại diện Nhật tại Việt Nam lần lượt trao trả các thành phố như Khâm sai Bắc Kỳ là Phan Kế Toại và Trần Văn Lai là Đốc lý ở Hà Nội. Nguyễn Văn Sâm là Khâm sai Nam Kỳ ngày 08/8/1945.
Tình hình thế giới và Việt Nam năm 1945
Cũng trong thời gian này, tình hình thế giới chuyển biến nhanh chóng. Các Hội nghị và Tuyên bố giữa các cường quốc diễn ra liên tiếp từ Cairo, Tehran, Yalta cho đến Postdam. Phe Đồng Minh liên tiếp giành thắng lợi trên chiến trường. Sau khi phát xít Đức đầu hàng ngày 09/5/1945, mặt trận chống phát xít Nhât tại châu Á – Thái Bình Dương trở thành tiêu điểm. Ngày 06/8/1945, quả bom đầu tiên rơi xuống Hirosima. Ngày 08/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản và Hồng quân tiến vào vùng Mãn Châu giao chiến và đánh bại đội quân Quan Đông của Nhật Bản.
Ngày 09/8/1945, quả bom thứ 2 rơi xuống Nagasaki. Ngày 14/8/1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện theo Tuyên bố Postdam (được soạn thảo bởi Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa).
Tuy vậy, cỗ máy chiến tranh của Nhật vẫn tiếp tục vận hành. Quân đội Quan Đông vẫn tiếp tục chiến đấu trên đất liền cho đến hải đảo đến tận ngày 02/9/1945. Phe Đồng Minh yêu cầu có một nghi thức đầu hàng chính thức và đó là 9:00 sáng ngày 02/9/1945.
Thế nhưng, cũng thông qua các Hội nghị, Tuyên bố giữa các cường quốc đã thể hiện những mâu thuẫn trong nội bộ các nước này. Sau Trân Châu Cảng, Hoa Kỳ tham chiến, các nước Đồng Minh đều lên tiếng chống Nhật nhưng tại sao tại Đông Dương quân Nhật lại vào một cách dễ dàng như thế? Đó là vì Anh mâu thuẫn với Mỹ; Mỹ với Pháp; Pháp với Trung Hoa. Anh với Pháp đều muốn chiếm lại những thuộc địa cũ của mình từ tay Nhật, trong đó có Đông Dương nên Anh ủng hộ Pháp, muốn Pháp nhanh chóng trở lại Đông Dương. Mỹ muốn gạt dần ảnh hưởng của Anh, Pháp ở Đông Dương nhưng còn mặt trận Thái Bình Dương với Nhật nên dùng Trung Hoa (Tưởng Giới Thạch) để kìm Pháp nhưng Tưởng Giới Thạch còn bận chiến tranh với Nhật trên đất Trung Hoa và quan trọng hơn, còn cuộc chiến chống Đảng Cộng sản Trung Quốc. Chính những mâu thuẫn này, dù Nhật đến Đông Dương từ 1940 và Toàn quyền Jean Decoux của chính phủ Vichy vẫn tiếp tục hợp tác với Nhật, trong khi, Pháp của De Gaulle nhiều lần bày tỏ phe Đồng Minh đổ bộ hay lực lượng Pháp đổ bộ thì đều bị Hoa Kỳ lần lượt tìm lý do để trì hoãn hoặc từ chối. Thậm chí, trong Hội nghị Postdam – Hội nghị quan trọng nhất trước khi chiến tranh kết thúc, Pháp không được tham dự (từ Hội nghị Yalta) và Hoa Kỳ, Anh đã thỏa thuận lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới hành quân và tiếp nhận giải giáp quân Nhật. Phía Nam do quân đội Anh phụ trách; phía Bắc do quân đội Mỹ, Mỹ để quân Tưởng Giới Thạch làm việc này thay mình.
Nắm bắt chuyển biến của thế giới, ngay khi Liên Xô tuyên chiến với quân đội Nhật Bản ngày 08/8/1945, ngày 10/8/1945 Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị toàn quốc. Ngày 13/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc được thành lập, ra Quân lệnh số 1, tổng khởi nghĩa trên cả nước. Ngày 15/8/1945, Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ: “phải tránh cái trường hợp một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng minh (Trung Hoa, Pháp, Anh, Mỹ) tràn vào nước ta và đặt chính phủ của Pháp De Gaulle hay một chính phủ bù nhìn khác trái với ý nguyện dân tộc” và “… cần tranh thủ sự đồng tình của Liên Xô và Mỹ chống lại mưu mô của Pháp định khôi phục địa vị cũ ở Đông Dương và mưu mô của một số quân phiệt Tưởng định chiếm nước ta”. Ngày 16/8/1945, Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào phê chuẩn lệnh Tổng khởi nghĩa, thống nhất quốc kỳ, quốc ca, lập ra Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm đứng đầu.
Sau đó, Cách mạng Tháng 8 đã nổ ra khắp nơi từ 19/8/1945 tại Hà Nội; 23/8/1945 tại Huế và 25/8/1945 tại Sài Gòn. Chính quyền Trần Trọng Kim tan rã, sụp đổ nhanh chóng, chính quyền cách mạng được thành lập khắp nơi. Tại Huế, ngày 25/8/1945, Bảo Đại đã đồng ý và trao chiếu thoái vị cho đại diện Việt Minh nhưng lễ thoái vị chính thức, trao ấn kiếm được tổ chức ngày 30/8/1945 và Bảo Đại trờ thành công dân Vĩnh Thụy, rồi cố vấn cho chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong khi đó thì mãi đến ngày 24-8-1945, Mỹ mới thừa nhận chính thức quyền của Pháp trở lại Đông Dương, tức là sau khi Cách mạng Tháng Tám đã thành công về cơ bản trong cả nước. Còn Anh thì phải đến ngày 12-9-1945, những đơn vị đầu tiên của quân Anh – Ấn mới vào tới Sài Gòn, trong khi ta đã tuyên bố độc lập từ ngày 2-9-1945. Thảm hại hơn là Pháp, ngày 18-8-1945, tướng P. Leclerc mới lên đường sang Viễn Đông, cao ủy G. d’Argenlieu thì đến ngày 5-9-1945 mới rời Pari lên đường đi Ấn Độ để từ đó sang Đông Dương. Còn quân Tưởng thì đến ngày 27-8-1945, gần hai tuần sau khi Nhật đầu hàng, mới bắt đầu vượt biên giới Việt – Trung và mãi đến ngày 9-9-1945 mới vào tới Hà Nội, trong khi mọi việc chúng ta đã giải quyết xong vào ngày 2-9-1945.

Quảng Trường Ba ĐÌnh 2/9/1945 – Hình internet
Chính phủ lâm thời được thành lập từ ngày 28/8/1945, Bác Hồ ở số 48 Hàng Ngang còn cơ quan Chính phủ ở số 12 Ngô Quyền. Và khoảng 2 giờ chiều ngày 02/9/1945, Người đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay lúc này, đại diện cao nhất của chính phủ Pháp Tự do (Free France – chính phủ của De Gaulle) cũng đang hiện diện ở Hà Nội và chứng kiến cảnh người dân đi tham gia ngày Quốc khánh.
P/s: Bài viết có sử dụng tham khảo, trích dẫn bài đăng trên Tạp chí Cộng sản của PGS.TS Vũ Quang Vinh ngày 05/8/2023. (https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/828003/cuoc-dau-tri-cua-cac-nha-chien-luoc-viet-nam-va-dong-minh-trong-cach-mang-thang-tam-nam-1945.aspx)






