Nước Việt Nam trong năm 1945

Mục lục

Nước Việt Nam trong năm 1945 đã trải qua những biến động gì? Sau thế chiến thứ 2, tình hình đất nước chúng ta ra sau? Từ năm 1940 đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nước ta đã trải qua những khó khăn như thế nào? Miền Bắc ra sao? Miền Nam khi đó thế nào? Bài viết cung cấp một vài thông tin chính, giúp đọc giả, các bạn HDV và những người đam mê du lịch có thể tìm hiểu thêm để rõ hơn hay xây dựng bài thuyết minh phục vụ du khách tốt hơn.

Từ năm 1940

Tại Việt Nam, tháng 9 năm 1940, quân Nhật tiến vào Đông Dương qua ngã Đồng Đăng, quân Pháp bị đánh bật khỏi các đồn quân sự, tháo chạy về Thái Nguyên qua ngã Bắc Sơn. Nhân dân và Đảng bộ huyện Bắc Sơn đã truy kích, bắt giữ, chiếm đồn Mỏ Nhài, lập nên cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn trong lịch sử dân tộc. Ban đầu, Nhật còn đánh Pháp nhưng sau đó lại làm ngơ cho quân Pháp đánh chiếm lại đồn Mỏ Nhài. Đồng thời, quân Pháp còn do thám được các bước tiếp theo của khởi nghĩa, khiến cho khởi nghĩa bị đàn áp, nhiều người bị bắt giữ, hành quyết trong tháng 10 năm 1940. Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đánh Pháp, đánh Nhật đã lụi tàn nhưng cho thấy, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã quyết tâm, dũng cảm đứng lên nổi dậy chống lại phe phát xít Nhật và Pháp ngay từ khi chúng đến nước ta. Cùng với Bắc Sơn, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Kỳ, một cuộc khởi nghĩa trên khắp miền Nam được lên kế hoạch chu đáo, cẩn thận. Các đội tự vệ du kích được thành lập từ xí nghiệp cho đến trường học, nông thôn. Nhưng mật thám Pháp đã theo dõi và nhiều cán bộ từ Bí thư Xứ ủy như Võ Văn Tần, Tạ Uyên, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Như Hạnh lần lượt bị bắt. Kế hoạch bị bại lộ nhưng lệnh tổng khởi nghĩa đã ban ra từ 20/11/1940. Cho nên, ngày 23/11/1940, nhân dân, tự vệ của 18 tỉnh ở miền Nam đồng loạt khởi nghĩa. Dù khởi nghĩa đạt được những thắng lợi bước đầu, giải tán chính quyền thực dân, lập chính quyền cách mạng nhưng cũng bị đàn áp, nhiều người hi sinh và chính quyền cách mạng tồn lại lâu nhất là Mỹ Tho trong 49 ngày.

Hai cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ dù kết cuộc bị đàn áp ngay sau đó, chính quyền cách mạng tồn tại không lâu nhưng đã cho thấy những bước tiến bộ từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh vũ trang với sự ra đời của các đội tự vệ, du kích và tinh thần đấu tranh, dũng cảm, kiên cường của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, trước là với thực dân Pháp, sau là Pháp Vichy (thân Đức) và Nhật. Nói thêm cho rõ, từ sau tháng 7/1940, Pháp tồn tại 2 chính thể: nước Pháp Vichy (Thống chế Pétain – Thủ đô là Vichy) thân với Đức Quốc Xã và nước Pháp Tự do (Free France – chính phủ kháng chiến của De Gaulle). Cho nên, khởi nghĩa Bắc Sơn và khởi nghĩa Nam Kỳ đánh Pháp Vichy hay đánh Nhật cũng là chống giặc ngoại xâm và cùng các nước chống phát xít trên mặt trận Châu Á – Thái Bình Dương. Hai cuộc khởi nghĩa cũng là bài học kinh nghiệm cho Cách mạng tháng 8 năm 1945.

Trước chiến sự thay đổi theo hướng có lợi cho phe Đồng Minh với những thắng lợi liên tiếp trên chiến trường châu Âu, ngày Đức đầu hàng vô điều kiện không còn xa. Các Hội nghị diễn ra giữa các cường quốc về việc an ninh sau chiến tranh, phân chia lãnh thổ và quyền tự do, độc lập, thể chế chính trị của quốc gia bị chiếm đóng cũng như mở mặt trận Châu Á – Thái Bình Dương đồng thời quyết định về điều kiện Nhật Bản đầu hàng, giải quyết những vùng lãnh thổ mà Nhật Bản chiếm đóng trong chiến tranh. Dù các nước này đã tuyên chiến với Nhật Bản từ sau 1941 nhưng mặt trận châu Âu, chiến đấu với Đức Quốc Xã vẫn quan trọng hơn nhằm cứu các quốc gia châu Âu đang bị Đức chiếm đóng cho nên chỉ khi nào mặt trận châu Âu tạm ổn, đây là lúc bàn về Châu Á – Thái Bình Dương mà cụ thể là chiến tranh với Nhật Bản, phân chia sau khi Nhật Bản đầu hàng cũng như độc lập, tự do hay thể chế chính trị của các vùng đất do Nhật Bản chiếm đóng.

Do đó, ngày 27/11/1943, Tuyên cáo Cairo đã được ký và được phát thanh ngày 01/12/1943 với nội dung: nêu rõ ý định của Khối Đồng minh về việc tiếp tục triển khai lực lượng quân sự cho đến khi nào Nhật Bản chịu đầu hàng vô điều kiện. Trong Tuyên cáo Cairo, có đoạn viết: “Japan will also be expelled from all other territories which she has taken by violence and greed”. (Wiki dịch: Nhật Bản cũng sẽ bị trục xuất khỏi tất cả các vùng lãnh thổ mà nước này đã chiếm được bằng vũ lực và lòng tham). Do đó, Khối Đồng Minh sẽ không công nhận bất cứ chính phủ nào do đế quốc Nhật Bản thành lập tại các lãnh thổ chiếm đóng. Trong trường hợp này, chính là Đại Mãn Châu quốc và Đế quốc Việt Nam – Chính phủ Trần Trọng Kim.

Năm 1945

Thế giới bước vào năm 1945 với nhiều chuyến biến mau lẹ mà chỉ có những đầu óc nhạy bén nhất mới có thể bắt kịp để cho ra những kế hoạch, những định hướng phát triển tiếp theo cho quốc gia, dân tộc mình. Mọi cấp lãnh đạo từ nước lớn đến nước bé, từ nước bị xâm chiếm cho đến các quốc gia thuộc địa cũng đón chờ những tình huống, những thời cơ pha lẫn thách thức để đem về lợi ích cho mình. Và với Việt Nam, đó là “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Hội nghị Yalta (04 – 11/2/1945) giữa 3 nước: Hoa Kỳ, Anh và Liên Xô nhằm thiết lập một nền hòa bình hậu chiến và cả nền an ninh tập thể và quyền tự quyết cho người dân châu Âu. Đặc biệt, Hội nghị đã cam kết “thành lập những chính phủ đại diện cho ý chí của nhân dân bằng bầu cử tự do sớm nhất có thể”. Đây là điều 3 trong 8 điều của Hiến chương Đại Tây Dương do Anh và Mỹ soạn thảo ngày 14/8/1941 và được 26 nước Khối Đồng Minh cam kết ủng hộ Hiến chương này vào 01/1/1942). Nguyên văn của Hiến chương Đại Tây Dương (Atlantic Charter) theo Wiki: “Anh và Mỹ tôn trọng quyền lựa chọn được sống dưới một chính thể nào đó của các dân tộc; mong muốn thấy chủ quyền và chính phủ tự trị của các dân tộc bị quốc gia khác dùng sức mạnh tước đoạt được khôi phục lại”.

Ngày 09/3/1945, đại diện quân đội Nhật là đại sứ Matsumoto Shunichi đưa tối hậu thư cho Jean Decoux – Toàn quyền Pháp, đòi chính quyền Pháp Vichy chấp nhận vô điều kiện sự chỉ huy của quân đội Nhật trên toàn cõi Đông Dương (đây là sự kiện mà chúng ta hay gọi là Nhật đảo chính Pháp). Sau đó, tương tự như Đại Mãn Châu quốc của Phổ Nghi, quân Nhật đã chọn giải pháp Bảo Đại – Trần Trọng Kim (không chọn Kỳ ngoại hầu Cường Để – Ngô Đình Diệm) để dựng nên Đế quốc Việt Nam do Bảo Đại làm hoàng đế. Đế quốc Việt Nam tuyên bố độc lập ngày 11/3/1945. Nhật Bản yêu cầu Bảo Đại ký Bản tuyên bố hủy bỏ các Hiệp ước với Pháp (nhất là Hòa ước Giáp Thân – Patenôtre 1884) với lời hứa hẹn sẽ trao trả độc lập cho nước Việt Nam. Nguyên văn được đăng trên Nhật báo Sài Gòn như sau: “Chính phủ Việt Nam nay thủ tiêu điều ước bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam và Đế quốc Việt Nam tuyên bố đã phục hồi sự độc lập”. Thế nhưng, Đế quốc Việt Nam là một thực thể không khác gì so với thời Pháp đô hộ – không tự chủ về ngoại giao, không có quân đội, không độc lập về tài chính.

Ngày 17/4/1945, Nội các Trần Trọng Kim cùng 11 Bộ trưởng được công bố. Trong số này, có một vị nhân sĩ, trí thức tham gia cách mạng sau này: Bộ trưởng Tư pháp – Luật sư Trịnh Đình Thảo, Bộ trưởng Thanh niên – Luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Công chính – Kỹ sư Lưu Văn Lang, Khâm sai Bắc Bộ – Tổng đốc Phan Kế Toại, Đốc lý Hà Nội – Bác sĩ Trần Văn Lai, Khâm sai Nam Bộ – Nguyễn Văn Sâm, Đô trưởng Sài Gòn – Kỹ sư Kha Vạng Cân, v.v… Chính phủ này tồn tại trong vòng 130 ngày từ ngày 17/4 – 25/8/1945, chúng tôi chỉ nêu một vài ý chính về những gì mà chính phủ này làm được: lấy lại tên gọi Việt Nam; soạn hiến pháp, nhấn mạnh tự do, độc lập, đòi lại trên danh nghĩa vùng Nam Kỳ để thống nhất lãnh thổ, biết rút lui và trao quyền cho chính quyền cách mạng.

Tiểu kết

Chúng tôi xin nói rõ thêm, để quý vị đọc giả cùng bàn luận: Triều Nguyễn lên ngôi từ 1802, trải qua 3 đời vua, đến đời Tự Đức, Pháp dùng vũ lực, nổ súng xâm lược nước ta 1858. Lần lượt các Hòa ước Nhâm Tuất 1862 (sau khi mất 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ), rồi Hòa ước Giáp Tuất 1874 (sau khi Pháp chiếm Thành Hà Nội), rồi Hòa ước Quý Mùi (Harmand) 1883 (sau khi Tự Đức mất 19/7/1883, Dục Đức 3 ngày, từ 20 – 23/7/1883, Hiệp Hòa lên thay thế 30/7/1883) gồm 27 điều, trong đó, điều 1: “Triều đình Huế công nhận sự bảo hộ của Pháp” và điều 2: “Nam Kỳ là xứ thuộc địa từ 1874, gồm cả Bình Thuận” (theo tóm tắt của Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược). Đến năm 1884, dưới thời vua Kiến Phúc, Hòa ước Giáp Thân được ký, không khác mấy so với Quý Mùi 1883, Hòa ước mới nêu rõ: “Chia nước Việt Nam ra làm ba xứ: Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam), Nam Kỳ (Cochinchine) dưới ba chế độ khác nhau; mỗi kỳ có một chế độ cai trị riêng như là ba nước riêng biệt. Nam Kỳ là xứ thuộc địa Pháp; Bắc Kỳ và Trung Kỳ là xứ Pháp bảo hộ nhưng triều đình nhà Nguyễn trên danh nghĩa vẫn được quyền kiểm soát”. Như vậy, có thể nói (và nhiều ý kiến cũng đồng thuận): Nhà Nguyễn trên thực tế chỉ tồn tại từ 1802 – 1883, quá lắm là sang 1884 vì sau đó, đã bị chia cắt (không còn toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền), thậm chí, còn mất cả đất Nam Kỳ (thuộc địa, không thuộc quản lý Nhà Nguyễn). Từ đó, Nhật Bản đã thuyết phục Bảo Đại “trao trả độc lập tự do cho nước ông” mà yêu cầu Bảo Đại ký Bảng tuyên bố hủy bỏ các Hiệp ước với Pháp (đặc biệt là Hòa ước Giáp Thân 1884 – Patenôtre). Điều này, có nghĩa là: Việt Nam sẽ có độc lập (dù trên thực tế, không phải vậy), được trả lại các vùng đất nhượng địa như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và thuộc địa như Nam Kỳ; sẽ có một chính phủ do Hoàng đến Bảo Đại đứng đầu và Tổng trưởng Nội các là Trần Trọng Kim; tên gọi của chính thể này: Đế quốc Việt Nam, cờ Quẻ Ly và bài “Đăng đàn cung” làm quốc kỳ và quốc ca. Như vậy, chúng tôi tạm kết rằng: Đế quốc Việt Nam kế thừa nhà Nguyễn nhưng không phải là tiếp nối “cha truyền con nối” hay triều đại phong kiến (mà nó đã chấm dứt từ 1883 – 1884). Hai là, Đế quốc Việt Nam được lập ra, có chính quyền, có nội các, có hiến pháp, có quốc kỳ, quốc ca nhưng do phát xít Nhật hậu thuẫn lập ra cho nên theo Tuyên cáo Cairo, chính quyền đó không được công nhận. Tuy nhiên, ngày 25/8/1945, Hoàng đế của Đế quốc Việt Nam đã chấp nhận thoái vị, trao ấn kiếm bằng một nghi lễ long trọng tại Ngọ Môn ngày 30/8/1945, được tiếp nhận bởi Tổng bộ Việt Minh, Bảo Đại trở thành công dân Vĩnh Thụy và Đế quốc Việt Nam cáo chung.

Trong lúc đó, ngày 10/8/1945 Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị toàn quốc. Ngày 13/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc được thành lập, ra Quân lệnh số 1, tổng khởi nghĩa trên cả nước. Đến ngày 15/8/1945, khi đoạn ghi âm lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của Nhật Hoàng vang lên, Trung ương đã ra Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ: “phải tránh cái trường hợp một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng minh (Trung Hoa, Pháp, Anh, Mỹ) tràn vào nước ta và đặt chính phủ của Pháp De Gaulle hay một chính phủ bù nhìn khác trái với ý nguyện dân tộc” và “… cần tranh thủ sự đồng tình của Liên Xô và Mỹ chống lại mưu mô của Pháp định khôi phục địa vị cũ ở Đông Dương và mưu mô của một số quân phiệt Tưởng định chiếm nước ta”.  Ngày 16/8/1945, Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào phê chuẩn lệnh Tổng khởi nghĩa, thống nhất quốc kỳ, quốc ca, lập ra Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm đứng đầu.

Cách mạng tháng 8 và Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945

Khi đó, Cách mạng tháng 8 bùng lên cả nước, chính quyền cách mạng được lập ra khắp nơi từ Hà Nội, Huế, Sài Gòn đến từng vùng quê. Chính phủ lâm thời được thành lập từ ngày 28/8/1945, Bác Hồ ở số 48 Hàng Ngang còn cơ quan Chính phủ ở số 12 Ngô Quyền. Và khoảng 2 giờ chiều ngày 02/9/1945, Người đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay lúc này, đại diện cao nhất của chính phủ Pháp Tự do (Free France – chính phủ của De Gaulle) cũng đang hiện diện ở Hà Nội và chứng kiến cảnh người dân đi tham gia ngày Quốc khánh. Trong khi đó thì mãi đến ngày 24-8-1945, Mỹ mới thừa nhận chính thức quyền của Pháp trở lại Đông Dương,  tức là sau khi Cách mạng Tháng Tám đã thành công về cơ bản trong cả nước. Còn Anh thì phải đến ngày 12-9-1945, những đơn vị đầu tiên của quân Anh – Ấn mới vào tới Sài Gòn, trong khi ta đã tuyên bố độc lập từ ngày 2-9-1945. Thảm hại hơn là Pháp, ngày 18-8-1945, tướng P. Leclerc mới lên đường sang Viễn Đông, cao ủy G. d’Argenlieu thì đến ngày 5-9-1945 mới rời Pari lên đường đi Ấn Độ để từ đó sang Đông Dương. Còn quân Tưởng thì đến ngày 27-8-1945, gần hai tuần sau khi Nhật đầu hàng, mới bắt đầu vượt biên giới Việt – Trung và mãi đến ngày 9-9-1945 mới vào tới Hà Nội, trong khi mọi việc chúng ta đã giải quyết xong vào ngày 2-9-1945.

Có thể thấy, tháng 8 năm 1945 là một giai đoạn hết sức sôi động, chuyển biến hết sức nhanh, chỉ có sự sáng suốt của Bác Hồ, của Trung ương mới nhìn ra cơ hội, nắm bắt để tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Có thể nói, sự kết hợp khởi nghĩa toàn quốc và những tuyên bố, hiến chương luật pháp quốc tế để hình thành ra một Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Căn cứ vào Tuyên bố Cairo, Hội nghị Yalta, Hiến chương Đại Tây Dương (Việt Nam tham gia từ ngày 29/3/1945) cho nên trong Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945, Bác Hồ có viết một số đoạn như sau:

– ” … Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối, đầu hàng, mở cửa nước ta, rước Nhật, từ đó, dân ta chịu 2 tầng xiềng xích: Pháp và Nhật”.

– “… Ngày 09/3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy, hoặc đầu hàng. Thế là, chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong năm năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật. Trước ngày 09/3, biết bao lần, Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn trước.”

– “… Sự thực là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành nước thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng Minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Cộng hòa Dân chủ. Sự thực là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chú không phải từ tay Pháp. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị, dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.”

Bác Hồ còn viện dẫn các Hội nghị, trong đó có Hội nghị Tehran (tháng 11 năm 1943) và hội nghị San Francisco (tháng 6 năm 1945) thành lập Liên Hiệp quốc và Hiến chương Liên Hiệp quốc. Căn cứ vào các điều trên, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và luật lệ quốc tế lúc bấy giờ mà Người tuyên bố: “..Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy!”

Trong những người ký tên trong bản Tuyên ngôn Độc lập cũng có thành viên của Đế quốc Việt Nam là Đốc lý Hải Phòng Vũ Trọng Khánh.

P/s: Bài viết có sử dụng tham khảo, trích dẫn bài đăng trên Tạp chí Cộng sản của PGS.TS Vũ Quang Vinh ngày 05/8/2023. (https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/828003/cuoc-dau-tri-cua-cac-nha-chien-luoc-viet-nam-va-dong-minh-trong-cach-mang-thang-tam-nam-1945.aspx)