Trước Hiệp định Paris 1973, Chiến dịch Xuân Hè 1972 bao gồm những chiến dịch, trận đánh hay địa điểm nào?
Người ta thường nhắc đến “mùa hè đỏ lửa” hay trận chiến Thành cổ Quảng Trị, được mô tả một phần qua tác phẩm điện ảnh “Mưa đỏ” cũng như Tổng tiến công nổi dậy mùa xuân 1975 với 3 chiến dịch: Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, người ta thường ít biết đến chiến dịch Xuân Hè 1972; thậm chí, nếu có, chẳng qua là từng trận đánh riêng lẻ, một phần của từng chiến dịch nhỏ hơn. Vậy chiến dịch Xuân Hè 1972 bao gồm 3 chiến dịch:
- Chiến dịch Nguyễn Huệ (Tây Ninh – Bình Long – Phước Long) từ 31/3/1972 – 28/1/1973
- Chiến dịch Bắc Tây Nguyên từ 30/3 – 05/6/1972 (Đak Tô – Tân Cảnh)
- Chiến dịch Trị Thiên từ 30/3/1972 – 30/1/1973 (Thành cổ Quảng Trị).
Chiến dịch Nguyễn Huệ từ 31/3/1972 – 28/1/1973
Đại hội Đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam họp từ ngày 6 đến ngày 8/6/1969, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cùng Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình (Chủ tịch là luật sư Trịnh Đình Thảo) đại diện cho các giai cấp, tầng lớp xã hội, các chính đảng, đoàn thể cử ra Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (lãnh đạo: KTS Huỳnh Tấn Phát). Để làm bàn đạp tiến đến Sài Gòn từ phía Bắc và Tây Bắc; cũng làm trụ sở cho Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Quân giải phóng miền Nam đã tiến hành chiếc dịch quân sự mang tên Nguyễn Huệ với 2 hướng tiến công: hướng chính là đường 13 (Lộc Ninh – Bình Long) và đường 22 (Tây Ninh). Cho nên, phần đông biết đến chiến dịch này qua trận đánh Lộc Ninh, vốn là một thị trấn được giải phóng vào ngày 07/4/1972. Tiếp theo đó, trận đánh An Lộc, tỉnh lỵ của tỉnh Bình Long diễn ra ác liệt giữa 2 bên. Phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa gọi tên chiến dịch là Eastern Offensive. Thị trấn An Lộc cũng được giải phóng rồi “bị tái chiếm” nhiều lần. Chiến dịch kéo dài và lan sang hầu như tất cả các khu vực Bắc Bình Dương như Bàu Bàng – Lai Khê để cuối cùng thành thế “da báo” trước khi Hiệp định Paris được ký kết. Như vậy, với những trận đánh trong chiến dịch Nguyễn Huệ, chúng ta đã bảo vệ, tạo được vòng vây, mở rộng vùng giải phóng cho Trung ương cục miền Nam; Căn cứ của Quân Giải phóng miền Nam (căn cứ Tà Thiết) và nhất là nơi đặt trụ sở của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
Cũng chính trong chiến dịch này, chúng ta giải phóng Lộc Ninh, là huyện hay thị trấn đầu tiên được giải phóng trên toàn miền Nam, là trụ sở thủ phủ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trước cả những địa danh khác như Đak Tô – Tân Cảnh hay Thành cổ Quảng Trị đồng thời, Lộc Ninh cũng là đoạn cuối đường Hồ Chí Minh – con đường chiến lược Bắc Nam. Tuy nhiên, về quy mô, Lộc Ninh chỉ là một thị trấn trong tỉnh Bình Long cũ, thậm chí còn không phải là tỉnh lỵ (An Lộc mới là tỉnh lỵ). Sau này, khi chúng ta giải phóng toàn bộ tỉnh Phước Long ngày 06/1/1975 thì đó mới là tỉnh đầu tiên được hoàn toàn giải phóng trong miền Nam.
Chiến dịch Bắc Tây Nguyên từ 30/3 – 05/6/1972
Nếu như chiến dịch Nguyễn Huệ có sự tham gia của 3 Sư đoàn của ta là Sư đoàn 5, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 cùng các Trung đoàn tăng, pháo thì Sư đoàn 320A (Đại đoàn Đồng bằng), (trong đó có 2 Trung đoàn: Trung đoàn 52 – Trung đoàn Tây Tiến và Trung đoàn 64 – Trung đoàn Quyết thắng) là lực lượng chủ yếu. Đặc biệt, có sự tham gia của các đơn vị tăng thiết giáp mà một trong số đó là chiếc xe tăng 377 và kíp lái anh hùng (hiện xe tăng 377 vẫn đang được trưng bài tại Khu tưởng niệm chiến thắng Đak Tô – Tân Cảnh). Đây là trận đánh rất khốc liệt, có sự tham gia lên kế hoạch và tham chiến của lực lượng quân đội Mỹ. Dự tính chúng ta sẽ mở chiến dịch để tăng cường tấn công vào các hệ thống phòng thủ chiến lược, làm thất bại chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, cầm chân các lực lượng chủ lực của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa và tiếp lửa cho hướng tấn công chủ yếu là mặt trận Trị Thiên. Cố vấn Mỹ và chính quyền Sài Gòn dự tính xây dựng một kế hoạch “tương kế tựu kế”: dụ Sư đoàn 320A của ta vào vùng Đak Tô – Tân Cảnh và dùng B-52 để tiêu hao và sau đó xóa sổ đối phương.
Từ ngày 30/3 đến ngày 5/4/1972, Trung đoàn 52 tấn công điểm cao Delta (1049), mãi đến ngày 21/4/1972, tăng cường Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48 mới làm chủ được điểm cao này. Từ ngày 12 – 15/4/1972 Trung đoàn 64 tấn công điểm cao 1015 (đồi Charlie) hay còn gọi là “Rocket Ridge”. Sau khi tiêu diệt 2 cứ điểm quan trọng này, trận đánh Đak Tô – Tân Cảnh bước vào giai đoạn quyết định. Đó là khi chiếc xe tăng 377, lao vào cuộc chiến “sinh tử” – một chọi 10 và bắn cháy 7 chiếc tăng trước khi trúng 3 phát đạn, cả kíp lái hi sinh. Chúng ta đã đánh vào tận Sở chỉ huy Trung đoàn 42 bộ binh của Việt Nam Cộng hòa, tiêu diệt 1 cố vấn Mỹ và 1 Đại tá VNCH, bắt sống 1 Đại tá khác. Ngoài ra, chúng ta còn tấn công sân bay Phượng Hoàng, căn cứ Đak Tô 2 và ngày 24/4/1972, cụm phòng ngự Đak Tô – Tân Cảnh hoàn toàn bị tiêu diệt. Thế trận giằng co diễn ra đến tháng 6/1972, khi quân Giải phóng giữ Đak Tô – Tân Cảnh, còn quân đội Sài Gòn giữ Thị xã Kontum.
Chiến dịch này ghi nhớ những vị tướng như Tư lệnh Mặt trận B3: Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo; chỉ huy trận đánh đồi Charlie là Trung tá Khuất Duy Tiến và kíp xe tăng 377: Thiếu úy Nguyễn Nhân Triển – Trưởng xe, Hạ sĩ Cao Trần Vịnh – lái xe; Hạ sĩ Nguyễn Đắc Lượng và Hoàng Văn Ái – pháo thủ.

Bia di tích lịch sử điểm cao 1049 – vết tích của chiến dịch Bắc Tây Nguyên tháng 4 – 1972.
Chiến dịch Trị Thiên 30/3/1972 – 30/1/1973
Đây là hướng tiến công chiến lược chủ yếu (từ chiến trường Đông Nam Bộ đến chiến trường Trị Thiên). Nhìn số lượng quân binh chủng tham gia cũng đủ thấy tính chất khốc liệt của chiến dịch: 5 Sư đoàn bộ binh 324, 308, 320 B, 304 và 325; 2 trung đoàn tăng thiết giáp 202, 203; 4 trung đoàn pháo binh; 2 sư đoàn phòng không 367 và 376. Với ba đợt tiến công mang tên Bão táp 1, 2 và 3, chúng ta lần lượt phá vỡ những phòng tuyến được mệnh danh là “lá chắn thép”, những căn cứ phòng ngự lần lượt bị tiêu diệt, thậm chí, địch tháo chạy bỏ lại nhiều vũ khí, trang bị hiện đại, kể cả xe tăng M-48. Đến ngày 2/5/1972, tỉnh Quảng Trị hoàn toàn giải phóng.
Có lẽ, đến giai đoạn sau thì lực lượng quân đội Mỹ đã tăng cường chi viện mạnh mẽ để tái chiếm Quảng Trị nhằm gia tăng lợi thế, áp lực trên bàn đàm phán Hiệp định Paris. Do đó, phần đông chúng ta nhớ đến trận đánh Thành cổ 81 ngày đêm từ 18/6 đến 16/9/1972. Quân đội Mỹ đã ném bom tàn phá khu vực Thành cổ. Quân đội Sài Gòn sử dụng toàn bộ lực lượng mạnh nhất của mình, từ lính dù, đến Thủy quân lục chiến kể cả các tướng lĩnh chỉ huy giỏi nhất của họ để ra trận. Nhưng tất cả đều thất bại trước sự anh dũng kiên cường của những người lính Quân Giải phóng miền Nam. Những tưởng sẽ chiếm lại được Thành cổ trong 2 tuần nhưng lại kéo dài từ tháng 6 đến 12/7/1972. Thậm chí, đối phương còn âm mưu dựng cờ trong Thành cổ, chụp hình để tuyên truyền nhưng cũng không thành công. Đây là thời điểm đàm phán căng thẳng, gay go nhất tại Hiệp định Paris.
Sau khi làm thất bại nhiều chiến thuật nhằm tái chiếm thành cổ và đạt được những thắng lợi trên bàn đàm phán, chúng ta cho các lực lượng rút ra khỏi Thành cổ nhưng vẫn hình thành các cụm bao vây xung quanh. Thậm chí, trước khi Hiệp định Paris được ký, quân đội Mỹ cùng quân đội Sài Gòn vẫn tổ chức kế hoạch hành quân Tango city ngày 25/1/1973 nhưng bị quân ta chặn đứng và tiêu diệt ngày 31/1/1973.
Như vậy từ tháng 9/1972, sau trận Thành cổ, chúng ta chiếm giữ phía Bắc sông Thạch Hãn, tạo thành các cụm chiến đấu, phòng ngự chặt chẽ. Dù địch liên tiếp tổ chức các cuộc hành quân nhằm tái chiếm 1/2 tỉnh Quảng Trị còn lại nhưng chúng đều thất bại. Quân đội Sài Gòn còn rút 2 Lữ đoàn dù thiện chiến đang chiến đấu ở chiến dịch Nguyễn Huệ và chiến dịch Bắc Tây Nguyên ra chi viện cũng đủ thấy tầm quan trọng, hướng tấn công chủ yếu, chiến lược của chiến dịch Trị Thiên không chỉ trên mặt trận chiến đấu mà còn trên bàn đàm phán ngoại giao.
P/s: Có những hình ảnh liên quan đến những chiến dịch để bạn đọc có thể tìm hiểu thêm như tấm “Cô bé Napalm” hay “Nụ cười Thành Cổ”…






