Việt Nam sau ngày Độc lập 02/9/1945

Sau ngày 02/9/1945, theo Hiệp ước Postdam, Việt Nam bị chia thành 2 vùng với 2 thế lực, mang tiếng là giải giáp quân Nhật nhưng lại mang theo những âm mưu nhằm xâm lược nước ta lần thứ 2. Chuyện gì xảy ra ở phía Nam vĩ tuyến 16 với quân Anh và quân Pháp? Phía Bắc vĩ tuyến 16, quân Tưởng hay còn gọi là “Hoa quân nhập Việt” thì thế nào? Lại nữa, khi đọc Max Hastings – nhà báo người Anh – viết tác phẩm “Vietnam: An Epic Tragedy, 1945 – 1975”, tác giả viết về câu hỏi dành cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam khi ấy là ông Nguyễn Cơ Thạch như sau: “Tại sao khi bị Khmer Đỏ tấn công biên giới Tây Nam vào cuối năm 1978, Việt Nam không tố cáo sự việc này ra Liên Hiệp Quốc, mà lại tấn công Campuchia?” Bộ trưởng trả lời: “Vì chúng tôi không coi trọng Liên Hiệp quốc như các ngài!”. Nhà báo hỏi: “Tại sao thế?”. Bộ trưởng nói: “Vì trong 40 năm qua, chúng tôi đã bị 4 trong 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo An Liên Hiệp quốc xâm lược”. (tức trừ Liên Xô hay Nga sau này mà thôi). Điều này gây thắc mắc cho tôi ở điểm quân đội Anh đến Việt Nam khi nào? Ở đây bao lâu và đã làm những gì tổn hại đến Việt Nam chúng ta? Chính từ những thắc mắc này, tôi đã đi tìm câu trả lời cho chính mình.

Những toan tính của các cường quốc với Đông Dương

Theo những Hội nghị và Tuyên bố trước đó, vấn đề giải giáp quân đội Nhật được chia ra làm 2 khu vực: phía Bắc vĩ tuyến 16 do quân đội Tưởng Giới Thạch phụ trách (Hoa quân nhập Việt); phía Nam vĩ tuyến 16 do quân đội Anh phụ trách. Trên văn bản, mọi việc có vẻ rất đơn giản nhưng đằng sau, tất cả đều là những âm mưu và toan tính. Về phía Hoa Kỳ, nhân dịp Anh và Pháp thất thế tại Đông Dương, Hoa Kỳ muốn “hất cẳng” hay làm giảm đi ảnh hưởng của họ tại khu vực này. Đó chính là lý do, nhiều lần, Hoa Kỳ cố tình trì hoãn bằng cách này hoặc cách khác để ngăn cảng quân đội Anh và nhất là Pháp quay lại Đông Dương hay nguy hiểm hơn là khôi phục các thuộc địa của họ, ảnh hưởng của họ tại Châu Á – Thái Bình Dương. Về phía Anh và Pháp, vừa bị Hoa Kỳ chèn ép trong việc phân chia lãnh thổ, quyền lợi tại châu Âu, vừa lo sợ Hoa Kỳ sẽ lấy mất phần của mình tại Châu Á – Thái Bình Dương, họ muốn nhanh chóng khôi phục quyền lợi của mình tại các nước thuộc địa đồng thời ngăn cản hoặc nhanh chóng dập tắt các phong trào đấu tranh đòi độc lập, tự chủ của các dân tộc thuộc địa. Họ “sợ” Việt Nam trở thành một hiện tượng gây ra sự “sụp đổ” hoàn toàn của chế độ thuộc địa và sâu xa hơn, họ sợ sự hình thành các quốc gia “cộng sản” thân Liên Xô sau Thế chiến thứ 2. Việt Nam có thể là “tấm gương” cho Malaysia, Myanmar, Ấn Độ, Sri Lanka đấu tranh đòi độc lập từ tay Anh sau khi Việt Nam đã giành được độc lập từ tay Nhật và Pháp.

Miền Nam sau ngày 02/9/1945

Nhân vật tích cực nhất, được cho là “kẻ tiếp tay cho Pháp trở lại xâm lược Đông Dương” lần thứ 2, là Thiếu tướng Doughlas Gracey cùng Sư đoàn 20 liên quân Anh – Ấn. Tướng Gracey được bổ nhiệm làm Tổng chỉ huy lực lượng quân Anh tại Việt Nam nên điều động toàn bộ quân Sư đoàn 20 lập tức di chuyển đến Việt Nam vào ngày 12/9/1945. Khi đến Việt Nam, Gracey cùng đội quân của mình làm ngược lại hoàn toàn những gì quy định trong các Hiệp ước, Tuyên bố về giải giáp, tước vũ khí quân đội Nhật ở Việt Nam.

Hóa ra, sau khi Nhật Bản đầu hàng phe Đồng Minh và được Hoa Kỳ chấp thuận cho việc đưa quân Pháp trở lại Đông Dương, Tướng De Gaulle đã bổ nhiệm Đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu làm Cao ủy Pháp và Tướng Leclerc (một trong những người ký vào bản đầu hàng vô điều kiện của Nhật Bản) là Tư lệnh tối cao các lực lượng Pháp tại Đông Dương với nhiệm vụ cụ thể: “là khôi phục lại chủ quyền của Pháp trên các lãnh thổ của Liên bang Đông Dương” và ” thi hành mọi biện pháp quân sự cần thiết nhằm khôi phục chủ quyền đó.”

Cùng lúc đó, Tưởng Giới Thạch, theo tinh thần Hiệp ước Postdam mà đưa quân vào phía Bắc vĩ tuyến 16, phát biểu trên tờ “Trung ương Nhật báo” ngày 25/8/1945 ở Côn Minh (Trung Quốc) có đoạn: “Tuân theo các điều khoản trong bản hiệp định của Đồng Minh mới đây, ngoài việc phái các lực lượng tới để tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật trong vùng bắc vĩ tuyến 16, chúng tôi không có tham vọng đất đai ở Đông Dương thuộc Pháp”.

Như vậy sự phân chia, tranh chấp lãnh thổ, ảnh hưởng của các nước tại Việt Nam đã rõ, quân đội Anh và Pháp muốn khôi phục, củng cố chủ quyền của mình ở khu vực Đông Nam Á với vai trò cụ thể là quân đội Pháp ở Đông Dương khi đưa quân vào mang tiếng là tước vũ khí quân Nhật nhưng cũng đồng thời, trang bị vũ khí, hỗ trợ cho quân Pháp đàn áp dã man các phong trào nổi dậy, đấu tranh giành độc lập của nhân dân phía Nam vĩ tuyến 16 kể cả nhân dân Campuchia. Ngày 15/10/1945, Gracey cho cả đại đội quân Pháp đi theo đánh chiếm Campuchia. Hoa Kỳ với âm mưu, làm giảm ảnh hưởng của Anh và Pháp nhưng lại giao cho quân Tưởng thi hành tước vũ khí quân Nhật ở phía Bắc vĩ tuyến 16. Nhưng bản thân quân Tưởng, chỉ cần quân Pháp chia sẻ quyền lợi, chúng lập tức sẽ rút lui, bàn giao lại tất cả cho Pháp.

Quân đội Anh và Gracey đã làm gì? Sư đoàn 20 liên quân Anh – Ấn đóng quân ở ngoại ô Chợ Lớn, khu sân bay Tân Sơn Nhất và các điểm đóng quân quan trọng của đạo quân Phương Nam của Nhật Bản. Họ tước vũ khí một phần của quân Nhật, giao cho quân Pháp, một phần vẫn được giữ lại vũ khí để đàn áp, bức hại những người nổi dậy, những người biểu tình, sẵn sàng bắt giam và giết hại những ai dám chống lại sự tiếp quản của họ. Đỉnh điểm là ngày 21/9/1945, Gracey ban hành thiết quân luật tại Sài Gòn, cấm tụ tập biểu tình, cấm mang vũ khí, cấm báo chí hoạt động (trừ báo Pháp). Trong khi đó, quân Pháp lại được trang bị vũ khí của quân Nhật, thậm chí những kiều dân Pháp cũng được mang vũ khí. Họ tấn công, chiếm đóng những nơi trọng yếu như đồn cảnh sát, bưu điện, kho bạc, sở mật thám. Một trung đoàn của Pháp cùng khoảng 5000 lính Nhật chuẩn bị tấn công Sài Gòn, cụ thể là trụ sở Ủy ban Hành chánh Nam Bộ và Quốc gia Tự vệ cuộc. Với khí thế hào hùng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Nam Bộ quyết tâm chiến đấu, gìn giữ nền độc lập non trẻ của mình.

Đêm 22 và sáng ngày 23/9/1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm trụ sở Ùy ban Hành chính Nam Bộ. Quân Anh – Ấn “án binh bất động”, làm ngơ cho quân Pháp hành động. Quân Pháp ỷ thế và được cho phép đàn áp, đánh đập tất cả mọi cuộc phản kháng. Bọn Nhật dùng tàu để chuyển quân và vũ khí cho Pháp, lập tòa xử những người biểu tình là vi phạm trật tự công cộng. Sau hết, Gracey ra lệnh cho quân Anh trực tiếp tham gia nhằm hỗ trợ quân Pháp nhanh chóng lật đổ chính quyền cách mạng. Hắn còn yêu cầu chúng ta giải tán các lực lượng, giao nộp vũ khí, rời khỏi trụ sở Ủy ban, bốt cảnh sát, các xí nghiệp như Ba Son để chúng giao lại cho Pháp. Doughlas Gracey rời Việt Nam ngày 28/1/1946, sau vỏn vẹn 4 tháng nhưng đã góp phần “đàn áp đẫm máu” chính quyền và phong trào cách mạng để quân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ 2.

Trong khi đó, Xứ ủy Nam Kỳ và Ủy Ban Hành chánh Nam Bộ đã kịp thời họp bàn phương án đối phó, tổ chức một cuộc kháng chiến, lập ra Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ do Trần Văn Giàu làm chủ tịch với lời kêu gọi: “Độc lập hay là chết! Hôm nay, Ủy ban Kháng chiến kêu gọi: Tất cả đồng bào, già, trẻ, trai, gái, hãy cầm vũ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược”. Ngày 26/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam Bộ, khẳng định quyết tâm kháng chiến của cả nước, tiêu biểu là người dân Nam Bộ. Sau đó, các đoàn quân Nam tiến, các tướng lĩnh, các quỹ Nam Bộ lần lượt được triển khai tức thì. Từ 26/9 – 29/9/1945, nhân dân miền Bắc, miền Trung lần lượt di chuyển vào Nam, cùng đồng bào Nam Bộ kháng chiến. Khí thế đó khiến quân Pháp chùn bước, thông qua quân Anh xin điều đình với Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng nhân dân Nam Bộ 4 chữ: “Thành đồng Tổ quốc” tháng 2/1946.

Tóm lại, xâu chuỗi các vấn đề, chúng tôi nhận định: từ 1883, Việt Nam đã trở thành 3 vùng với 3 chế độ chính trị khác nhau, Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam) là đất nhượng địa, bảo hộ, vừa có chính quyền của vua nhà Nguyễn, vừa có các quan chức Pháp (công sứ, Khâm sai) và Nam Kỳ (Cochinchina) là đất thuộc địa. Đến khi, Nhật đảo chính Pháp 09/3/1945, Nhật hứa hẹn trao trả độc lập cho Việt Nam, vua Bảo Đại đã ký bản tuyên bố hủy bỏ các Hiệp ước với Pháp và thành lập Đế quốc Việt Nam. Với chính phủ thân Nhật – Trần Trọng Kim, Việt Nam dù vẫn còn tên gọi 3 vùng (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ) nhưng đã lấy lại được vùng đất thuộc địa là Nam Kỳ, sát nhập vào lãnh thổ chung cả nước. Đến khi Nhật đầu hàng, theo Hiệp ước Postdam, Việt Nam được chia thành 2 phần: phía Bắc và phía Nam vĩ tuyến 16. Về phía Nam vĩ tuyến 16, quân Anh phụ trách giải giáp quân Nhật nhưng lại “ngầm” hoặc ký kết với Pháp để khôi phục Đông Dương, dĩ nhiên, khác với lần xâm lược Việt Nam 1858 (Pháp đánh Đà Nẵng), lần thứ 2 này, Anh và Pháp chọn vùng Nam Bộ, vốn là thuộc địa cũ dưới thời Pháp để bắt đầu trở lại Đông Dương. Nhân dân Nam Bộ từ những ngày đầu đã chống Pháp với Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Võ Duy Dương, v.v… tiếp đến, khi có sự lãnh đạo của Đảng, cũng như khởi nghĩa Bắc Sơn, chúng ta đã đánh cả Nhật và Pháp ngay khi chúng đặt chân đến Việt Nam năm 1940. Năm 1945, hòa cùng cả nước, nhân dân Nam Bộ nhất tề tổng khởi nghĩa cách mạng tháng 8 để cùng hưởng độc lập tự do với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thế nhưng, dã tâm quay trở lại, muốn cướp nước ta một lần nữa, muốn biến nước ta thành nô lệ, thuộc địa một lần nữa, thực dân Pháp với sự hỗ trợ của quân Anh đã rầm rộ kéo vào nước ta. Nhưng thêm một lần nữa, tinh thần kháng chiến và khao khát “Độc lập hay là chết” đã khiến cho chúng phải chùn bước trước khí thế của cuộc Nam Bộ kháng chiến để chúng ta xây dựng chính quyền non trẻ, bắt đầu cho cuộc trường kỳ kháng chiến sau này.

Miền Bắc sau ngày 02/9/1945

Dù Thiên hoàng Nhật Bản đã đầu hàng từ ngày 15/08/1945 nhưng Tư lệnh quân đội Nhật tại Đông Dương là Suchihasi vẫn chưa chịu đầu hàng mà chỉ tạm ngừng bắn, chờ lệnh mới. Ngày 28/8/1945, quân đội Quốc Dân đảng mới do Lư Hán và Tiêu Văn chỉ huy mới tiến vào Bắc Việt Nam. Trên đường từ biên giới về Hà Nội, chúng ngang nhiên tước khí giới các đội tự vệ, bắt chính quyền, nhân dân cung cấp nơi ăn chốn ở, lương thực, kể cả thuốc phiện. Ngày 09/9/1945, Tiêu Văn đến Hà Nội. Ngày 11/9/1945, Lư Hán cũng bay đến và ngay lập tức bày tỏ thái độ hống hách, chèn ép, báo cáo cho hắn số lượng và tổ chức quân đội nhân dân Việt Nam (coi như không công nhận chính phủ của Hồ Chí Minh), can thiệp vào việc bố trí, sắp đặt nhân sự và đòi cung cấp thêm gạo. Thậm chí, Tổng trưởng Hà Ứng Khâm còn cầm mật lệnh của Tưởng Giới Thạch có 4 chữ: “Diệt Cộng cầm Hồ”. Về mặt chính trị, chúng hỗ trợ cho Quốc Dân Đảng ra sức gây sức ép về vấn đề nhân sự, lập các tổ chức đoàn thể, báo chí phản động, tuyên truyền, thậm chí đòi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chức. Chúng còn bí mật tổ chức các cuộc ám sát, khủng bố các cán bộ nòng cốt Việt Minh, bắt cóc tống tiền, phá đê điều, cướp ngân hàng. Ngoài Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Cách còn có Đại Việt quốc dân đảng của Trương Tử Anh, Đại Việt Quốc gia liên minh của Nguyễn Thế Nghiệp, Đại Việt duy tân của Lý Đông Á cũng ra sức phô trương thanh thế và phá hoại. Phía ta, về quân sự, vừa cứng rắn, vừa mềm dẻo để đối phò với quân Tưởng và các thế lực thân cận; về chính trị, Hồ Chủ tịch đã tuyên bố Đảng Cộng sản tự giải tán (chuyển sang hoạt động bí mật) ngày 11/11/1945. Đây là giai đoạn cực kỳ khó khăn khi chính quyền non trẻ phải đối mặt với những vấn đề “khó khăn” về mọi mặt đồng thời cũng thể hiện tài lãnh đạo của Bác và chính phủ vừa tránh căng thẳng leo thang để chúng không “manh động”, vừa tự bảo vệ mình trước các cuộc khủng bố. Bác luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích của các Đảng phái với mong muốn Tổng tuyển cử cả nước thành công. Tháng 12/1945, chúng còn đòi thay các Bộ trưởng là Đảng viên Đảng Cộng sản bởi người của chúng; đòi có đủ 70 ghế trong Quốc hội. Ngoài ra, chúng còn có chiến dịch tuyên truyền bôi nhọ, nói xấu, vận động không bỏ phiếu cho Việt Minh. Ngày 24/12/1945, Người đã ký với Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh cùng thoả thuận ba điều: Độc lập trên hết, đoàn kết trên hết; Đôi bên phải ủng hộ một cách thiết thực cuộc tổng tuyển cử Quốc hội và kháng chiến; Đôi bên đều đình chỉ hết thảy những việc công kích nhau bằng ngôn luận và hành động. Tất cả chỉ để một cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta thành công tốt đẹp.

Tóm lại, nếu như Nam Bộ kháng chiến là cuộc đấu tranh vũ trang với quân Anh và quân Pháp thì Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ lâm thời là một cuộc “đấu trí cân não” mà chỉ những người có tầm nhìn xa trông rộng, biết lấy cái sự nghiệp lâu dài làm trọng, sẵn sàng hi sinh cái cá nhân cho lợi ích quốc gia dân tộc, biết dùng người, biết mềm dẻo và cứng rắn đúng lúc, biết tận dụng các thời cơ và sức mạnh của toàn dân tộc để chiến thắng kẻ thù, ít nhất là hết năm 1945 và một cuộc tổng tuyển cử thành công đầu năm 1946.